TÌM HIỂU VỀ RAID 0+1 và RAID 1+0
TÌM HIỂU VỀ RAID 0+1 và RAID 1+0
I. Giới thiệu
Sự chênh lệch tốc dộ giữa vi xử lý và bộ nhớ chính với các thiết bị nhập xuất đã làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động của máy tính. Một trong các cách giải quyết là sử dụng hệ thống RAID để làm tăng tốc độ truy xuất của đĩa cứng. Ngoài ra RAID còn cung cấp cơ chế dự phòng giúp khắc phục lỗi rất tốt. Sau đây là những khái niệm cơ bản về hệ thống RAID.
RAID (Redundant Array of Independent Disk) là một tập hợp những đĩa vật lý. Đối với hệ điều hành hoặc user thì nó được xem như là một đĩa logic duy nhất. Dữ liệu được phân phối trên những đĩa vật lý này.
Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đã có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà còn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng.
RAID dựa trên các kỹ thuật cơ bản là stripping, mirroring và tính parity:
Stripping: phương pháp này chia dữ liệu ra thành từng ngăn, các ngăn này có thể là những khối, những cung vật lý hay theo một đơn vị nào đó. Ví dụ bạn có 8 đoạn dữ liệu được đánh số từ 1 đến 8, các đoạn đánh số lẻ (1,3,5,7) sẽ được ghi lên đĩa cứng đầu tiên và các đoạn đánh số chẵn (2,4,6,8) sẽ được ghi lên đĩa thứ hai.
Mirroring: đây là kỹ thuật nhân bản dữ liệu, dữ liệu sẽ được sao lưu ở một ổ đĩa khác để đảm bảo việc cho việc khôi phục khi có sự cố.
Tính parity: các bit chẵn lẻ được phân bố trên các đĩa theo một qui luật, giúp phục hồi dữ liệu thất lạc khi đĩa bị hỏng
II. Nội dung
1. Sơ lược về RAID 0 và RAID 1RAID 0
RAID 0 có khả năng truy xuất dữ liệu nhanh do ghi dữ liệu theo phương thức Striping.
Cần ít nhất 2 đĩa cứng.
Tuy nhiên nếu một đĩa cứng gặp trục trặc thì toàn bộ dữ liệu bị mất. Với công nghệ hiện đại, sản phẩm phần cứng khá bền nên những trường hợp mất dữ liệu như vậy xảy ra không nhiều.
RAID 0 thích hợp cho những người dùng cần truy cập nhanh khối lượng dữ liệu lớn, ví dụ các game thủ hoặc những người chuyên làm đồ hoạ, video số
RAID 1
RAID 1 đảm bảo an toàn dữ liệu do ghi dữ liệu theo phương thức mirroring.
Cần ít nhất hai đĩa cứng.
Dung lượng thực sự = kích thước ổ đĩa nhỏ nhất * số ổ đĩa/2
Nếu một ổ bị trục trặc, ổ còn lại sẽ tiếp tục hoạt động bình thường.
Không có sự cải tiến nào về tốc độ truy xuất dữ liệu.
RAID 1 thích hợp cho những nhà quản trị mạng hoặc những ai phải quản lý nhiều thông tin quan trọng.
2. RAID 0+1
RAID 0+1 kết hợp được ưu điểm truy xuất dữ liệu nhanh như RAID 0 và an toàn như RAID 1, sử dụng 2 kỹ thuật chính là stripping và mirroring. Quá trình Stripping được thực hiện trước rồi đến Mirroring.
Cần tối thiểu 4 đĩa cứng để thực thi, 2 ổ dạng stripping giúp tăng tốc và 2 ổ để sao lưu (mirroring) dữ liệu.
Các ngăn được tạo ra trước, sau đó mới được nhân đôi.
Các ngăn(stripe) được sắp xếp theo kiểu quay vòng (Round Robin) để phối hợp các thành phần trong mảng. Trong một mảng gồm n đĩa, n ngăn luận lý đầu tiên được xem như là ngăn đầu tiên trên mỗi n đĩa, n ngăn thứ hai được phân phối như là ngăn thứ hai trên mỗi đĩa…Do đó có một thuận lợi đáng kể khi sử dụng một đĩa đơn lớn, nếu hai yêu cầu nhập xuất khác nhau đang chờ hai khối dữ liệu được phân bố trên hai đĩa khác nhau, hai tiến trình này có thể được thi hành song song, làm giảm thời gian chờ trong hàng đợi nhập/xuất.
Sau khi các ngăn được tạo ra, việc nhân đôi dữ liệu mới được bắt đầu, mỗi ngăn luận lý được sắp xếp thành hai đĩa vật lý riêng biệt, mỗi đĩa trong mảng đều có một đĩa ảnh chứa cùng dữ liệu. Do đó, một yêu cầu đọc có thể được phục vụ nhờ một trong hai đĩa có chứa các dữ liệu được yêu cầu, đĩa nào có thời gian dò tìm và đáp ứng ngắn nhất sẽ được sử dụng. Đồng thời khi một ổ đĩa hỏng, dữ liệu vẫn có thể còn truy cập được từ đĩa thứ hai.
Dung lượng thực sự = kích thước ổ đĩa nhỏ nhất * số ổ đĩa/2
Là giải pháp tốt cho các ứng dụng cần hiệu suất cao nhưng không yêu cầu cao về độ tin cậy. Ví dụ như các ứng dụng về hình ảnh, các file server thông thường, …
- Ưu điểm:
Mô hình quản trị đơn giản, chỉ cần 1 câu lệnh tạo ngăn đầu tiên, câu lệnh tiếp theo để tạo ngăn thứ 2 và câu lệnh thứ 3 là để nhân bản chúng. Chỉ cần 3 câu lệnh để thực thi mà không cần quan tâm đến số lượng đĩa cần cấu hình
Có khả năng xử lý lỗi (fault tolerance) giống RAID 5
Tốc độ truy xuất nhanh
- Khuyết điểm:
Do tính chất của RAID 0 nên khi một đĩa bị lỗi, dữ liệu của toàn mảng stripping mà đĩa đó thuộc về sẽ không sử dụng được.
Chi phí cao do cần gấp đôi lượng đĩa để dự phòng.
Hiệu suất được duy trì khi các ổ đĩa được truy cập theo cơ chế song song.
Khả năng mở rộng bị hạn chế do cấu trúc phức tạp, chi phí cao.
3. RAID 1+0
RAID 1+0 ngược lại với RAID 0+1, quá trình mirroring thực hiện trước rồi tới stripping
Cần tối thiểu 4 ổ đĩa để thực thi. Hai ổ đĩa sẽ lưu dữ liệu theo kiểu miroring và 2 ổ đĩa còn lại lưu theo kiểu stripping.
Là giải pháp tốt cho các hệ thống sử dụng RAID 1 nhưng cần tăng hiệu suất hoạt động.
Dung lượng thực sự = kích thước ổ đĩa nhỏ nhất * số ổ đĩa/2
Thích hợp với các hệ thống lưu trữ cơ sở dữ liệu của server với yêu cầu cao về hiệu suất và khả năng chịu lỗi.
- Ưu điểm:
Khi một đĩa bị lỗi -> hệ thống sẽ mất đi một đĩa dự phòng của chính đĩa này (vì đĩa dự phòng đó được đem ra xài tạm), có khả năng xử lý lỗi giống như RAID 1
Tốc độ truy xuất cao do kỹ thuật stripping.
Trong một vài trường hợp, mảng RAID 1+ 0 có thể duy trì được hoạt động của nhiều đĩa bị lỗi đồng thời. Ví dụ trong hình nếu các đĩa A, C, E bị hư hệ thống vẫn hoạt động bình thường
- Khuyết điểm:
Việc cấu hình phức tạp, để thực thi cần có 1 câu lệnh khởi tạo cho mỗi một bản sao, sau đó phải có 1 câu lệnh cho mỗi ngăn trên một bản sao.
Chi phí cao, lượng overhead nặng
Hiệu suất được duy trì khi các ổ đĩa được truy cập theo cơ chế song song.
Khả năng mở rộng hạn chế do cấu trúc phức tạp, chi phí cao.
4. So sánh RAID 0+1 và RAID 1+0
* Giống nhau:
RAID 0+1 và RAID 1+0 đều kết hợp được những tính năng tốt nhất của kĩ thuật striping và mirroring để có được hiệu suất cao (tốc độ truy xuất nhanh của RAID 0 và khả năng xử lý lỗi tốt của RAID 1và không yêu cầu tính toán parity).
Dung lượng chung = (kích thước ổ nhỏ nhất)*(số ổ đĩa)/2
Năng suất lưu trữ: nếu tất cả các ổ có cùng dung lượng, năng suất là 50%
Yêu cầu về đĩa cứng: số đĩa cứng phải chẵn, tối thiểu là 4, số tối đa phụ thuộc vào controller, tất cả các đĩa phải giống nhau.
* Khác nhau:
RAID 0+1 nhân đôi dữ liệu đã được striping thành hai tập, còn RAID 1+0 lại chia ngăn dữ liệu trên các dữ liệu đã được nhân bản.
RAID 1+0 cung cấp khả năng xử lý lỗi và cho hiệu suất cao hơn RAID 0+1.
RAID 1+0 phục hồi lỗi nhanh hơn RAID 0+1 (vì RAID 0+1 phải khôi phục cả một tập)
RAID 1+0 có thể duy trì nhiều đĩa hư cùng lúc hơn RAID 0+1
I. Giới thiệu về RAID:
RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks, là một công nghệ cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà còn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng,bằng cách sử dụng thêm một số ổ đĩa cứng khác.
RAID cung cấp khả năng dung lỗi (Fault – tolerance),nâng cao tính sẵn sàng của hệ thống.
Hệ thống lưu trữ muốn sử dụng công nghệ này cần có một phần cứng đặc biệt,ngoài ra phải đáp ứng một số yêu cầu khác về số lượng ổ đĩa.
Để có được những khả năng đặc biệt đó,RAID sử dụng một số công nghệ sau:
Ánh xạ (Mirroring):
Trên một hệ thống RAID sử dụng Mirroring, tất cả dữ liệu được ghi một cách giả lập trên hai đĩa cứng như đối với một đĩa. Vì vậy, Mirroring yêu cầu một số chẵn các ổ đĩa .
Lợi ích của Mirroring là toàn bộ dữ liệu luôn được đặt trong tình trạng an toàn cao nhất, bảo đảm cho hệ thống tiếp tục hoạt động khi một trong hai đĩa cứng gặp lỗi vật lý, đồng thời đem lại khả năng phục hồi dữ liệu cực nhanh. Công việc cần làm chỉ là thay đĩa cứng bị hỏng bởi một đĩa cứng mới. Mirroring sẽ cải thiện tốc độ đọc dữ liệu – mặc dù tốc độ ghi có phần giảm sút, nhưng không nhiều. Tuy nhiên, Mirroring cũng có nhược điểm là gây ra sự lãng phí khi phải chi tiền cho một dung lượng lưu trữ khá lớn mà hiệu quả sử dụng chỉ là phân nửa.
Công nghệ Mirroring được sử dụng trong RAID 1, cũng như các loại RAID tổng hợp có bao gồm RAID 1 (như RAID 10). Mirroring cũng là nền móng cho kỹ thuật RAID “ghép đôi” (Duplexing RAID) ra đời sau này.
Ghép đôi (Duplexing)
Là một chuẩn mở rộng của Mirroring, Duplexing có những nét tương tự về mặt công nghệ như chuẩn ánh xạ đề cập ở trên. Dữ liệu cũng được ghi như nhau trên hai ổ đĩa. Tuy nhiên có một điểm khác biệt ở đây là Duplexing không chỉ “nhân đôi” dữ liệu mà thậm chí còn “nhân đôi” cả yêu cầu về phần cứng. Cụ thể, cần tới hai bộ điều khiển RAID để kết nối hai ổ đĩa dùng trong Duplexing (mỗi ổ đĩa sẽ kết nối tới một bộ điều khiển).
Duplexing mang tính bảo mật cao hơn Mirroring một bậc, vì có khả năng hạn chế những hư hỏng từ bộ phận điều khiển
Song hành (Striping)
Trong một dãy gồm nhiều ổ đĩa, có thể tăng tốc độ truy cập lên mức tối đa bằng cách ghi song song dữ liệu trên các ổ đĩa này. Theo đó, dung lượng ổ đĩa sẽ được chia thành nhiều phần nhỏ (strip). Dữ liệu sẽ được ghi trên các strip của từng ổ đĩa.
Ví dụ: trong trường hợp ghi một tập tin lên đĩa cứng, thay vì phương pháp cổ điển, kỹ thuật Striping sẽ chia nhỏ tệp này ra rồi ghi mỗi phần của tệp lên một ổ cứng trong dãy một cách đồng thời. Theo cách này, khi đọc dữ liệu, bộ điều khiển cũng sẽ đọc cùng lúc trên tất cả các ổ đĩa, hệ quả là hiệu năng của hệ thống lưu trữ sẽ được nâng cao lên rất nhiều – tùy thuộc vào số ổ đĩa trong dãy.
Striping có thể thực hiện ở cấp độ các byte, hoặc ở cấp độ các block dữ liệu. Ở cấp độ byte được sử dụng trong RAID 3, tập tin sẽ được chia thành từng gói nhỏ có kích thước một byte, và bộ điều khiển sẽ ghi từng byte này lên các ổ đĩa. Trái lại, trong cấp độ block, tùy theo kích thước block mà các phần của tập tin được chia nhỏ sẽ được lưu và phân bố trên các block này.
Striping được các loại RAID 1,RAID 3,4,5 sử dụng nhằm giúp tăng tốc truy xuất dữ liệu cho hệ thống.
Parity RAID
Bên cạnh Mirroring,Parity là một phương pháp khác để bảo vệ an toàn cho dữ liệu là sử dụng các thông tin mang tính “chẵn lẻ” đặc biệt gọi là Parity Information được tính toán thực tế từ giá trị của dữ liệu
Khái niệm “chẵn lẻ” được sử dụng trong cơ chế chống lỗi của bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên (RAM) máy tính. “Parity” của công nghệ RAID cũng có rất nhiều điểm tương đồng với thuật ngữ trên trong công nghệ bộ nhớ. Nguyên tắc hoạt động của Parity như sau:Từ các khối dữ liệu X0,X1,X2,…,Xn ,bộ điều khiển sẽ tính toán ra khối Y mang tính chẵn lẻ của các khối dữ liệu X và lưu trữ nó bằng phép OR hoặc XOR bit.Nếu mất bất kỳ gói dữ liệu Xk nào , bộ điều khiển sẽ khôi phục lại nó dựa trên các tính toán từ gói Xi (i <> k) và Y, bất chấp gói bị mất vì lý do gì.
II. Đặc điểm
Vì hệ thống RAID3 tổ chức với một đĩa parity và n đĩa dữ liệu nên RAID 3 cần sử dụng ít nhất là 3 ổ đĩa cứng. Các đĩa cứng sử dụng không nhất thiết phải cùng một dung lượng,tuy nhiên khác dung lượng thì sẽ gây lãng phí vì hệ thống lúc đó sẽ hoạt động với tất cả các đĩa bằng dung lượng của đĩa nhỏ nhất.
RAID 3 sử dụng 2 công nghệ:
Striping:Giúp nâng cao tốc độ đọc và ghi dữ liệu,sử dụng có hiệu quả rõ rệt khi truy xuất các file có kích thước lớn.
Parity:Các thông tin hỗ trợ dự phòng và kiểm tra lỗi sẽ được lưu trữ trên một đĩa riêng biệt gọi là đĩa kiểm tra (parity disk).
(2 công nghệ này đã được đề cập ở trên)
III. Kiến trúc và hoạt động
Hệ thống RAID3 gồm một bộ điều khiển RAID (RAID controller) nối với các đĩa cứng,làm nhiệm vụ điều khiển các thao tác truy xuất dữ liệu cũng như các thao tác kiểm lỗi và sửa lỗi.Qua bộ điểu khiển này,hệ thống đĩa bên dưới sẽ trở nên trong suốt đối với hệ thống bên trên như là một ổ đĩa duy nhất,có dung lượng bằng n x min_capacity.
Trong đó:
Min_capacity là dung lượng nhỏ nhất trong n+1 đĩa
N là số đĩa dữ liệu,không tính đĩa parity
Hình 1 : Mô hình hệ thống RAID 3
.png)
Trong hình là một mô hình của hệ thống RAID 3 với 3 ổ đĩa dữ liệu và một đĩa parity.Bộ điều khiển RAID đóng vai trò trung gian giữa hệ thống bên trên và hệ thống đĩa.
Như đã đề cập,RAID3 sử dụng 2 công nghệ là Striping và Parity.
1. Striping:
Trước tiên cần xét đến khái niệm strip của striping:
Strip: là đơn vị dữ liệu tính bằng byte trong mỗi thao tác đọc ghi.
Vd: Với RAID3,mỗi thao tác đọc ghi vào một đĩa sẽ đọc vào hoặc lấy ra 1 byte.Với RAID4 là block(khối byte).
Dữ liệu cùng lúc được ghi theo từng khối,với RAID3 1 khối = byte vào các đĩa dữ liệu.Trong quá trình ghi dữ liệu kèm theo ghi thông tin chẳn lẻ của khối dữ liệu đó trong đĩa parity disk.
Trong hình 1, File 1 được rải đều trên các strip của 3 đĩa một cách tuần tự.Mỗi thao tác cho phép đồng thời ghi 3 byte cùng lúc vào 3 ỗ đĩa.
Khi cần đọc dữ liệu, bộ điều khiển cũng sẽ đọc cùng lúc trên tất cả các ổ đĩa, hệ quả là hiệu năng của hệ thống lưu trữ sẽ được nâng cao lên rất nhiều – tùy thuộc vào số ổ đĩa trong dãy.Số đĩa càng lớn thì hiệu quả truy xuất tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên cách tổ chức này cũng có mặt hạn chế của nó,điều này sẽ được d8ề cập trong phần sau.
2. Parity:
Khi ghi thông tin lên các đĩa,bộ điều khiển sẽ tính toán ra các bit parity và lưu trên đĩa parity.Một Byte lỗi tại một ổ đĩa sẽ được khôi phục dựa vào các ổ đĩa còn lại và đĩa parity.Tuy nhiên với điều kiện là các byte ở cùng vị trí đó trên các ổ đĩa còn lại không bị lỗi.
Cách tính parity và sửa lỗi
Bit i của byte A ở cùng vị trí đối với tất cả các ổ đĩa được XOR với nhau để cho ra bit parity thứ I của byte A trên đĩa parity.Phép XOR các bit trong một dãy sẽ cho ra tính chẵn lẻ của dãy bit đó.Điều này cũng được áp dụng để tìm ra tính chẵn lẻ của bit bị lỗi n giá trị của bit đó.
Như vậy,với một đĩa parity,RAID3 có thể sửa lỗi được cho một số lượng đĩa không giới hạn.Tỉ lệ của ECC (Parity) disk / data disk càng thấp thì tính hiệu quả của RAID3 càng cao.
Một hệ thống có thể sử dụng RAID bằng 2 cách:
o Hardware RAID:Thực hiện bằng phần cứng chuyên dụng(RAID coard).Hệ điều hành sẽ chỉ thấy cả hệ thống đĩa như là một ổ đĩa duy nhất.
Hình 3: RAID card
o Software RAID:Thực hiện bởi hệ điều hành,HĐH giả lập bộ RAID controller và transparent hệ thống đĩa trở thành một ổ đĩa duy nhất đối với các ứng dụng.
Window: từ phiên bản 2000 server về sau đều hỗ trợ software RAID(RAID 5).(Disk Management).
Linux:Fedora có hỗ trợ RAID 0,1,5,6.
(Kèm theo bài báo cáo là 2 file video demo cách thiết lập RAID trên 2 môi trường Window và Linux )
IV. Ưu và khuyết điểm
1. Ưu điểm của RAID3:
Với kiến trúc như vậy,RAID3 có một số ưu điểm sau:
Tốc độ đọc ghi cao(xét trên một I/O request).
Khả năng sửa lỗi tốt,do có khả năng sửa lỗi trên mọi ổ đĩa.
Không tốn chi phí cho các đĩa sao lưu dữ liệu(như RAID 1).
Hỗ trợ hot-swap,cho phép thay nóng các ổ đĩa bị hỏng mà không cần dừng hoạt động của hệ thống.Khi đó ỗ parity sẽ đóng vai trò như ổ đĩa được lấy ra đảm bảo cho hệ thống vẫn duy trì hoạt động cho đến khi ổ đĩa mới được thay vào(Lúc này không có quá trình ghi thông tin kiểm tra và sửa lỗi).Tuy nhiên hệ thống phải có thiết bị đặc biệt là các khay hot-swap,các ổ đĩa đặt trên các khay này có thể tham gia hoặc rút khỏi hệ thống một cách dễ dàng.
2. Khuyết điểm RAID3:
Do thông tin lỗi chỉ tập trung trên đĩa parity nên nếu đĩa này xảy ra lỗi thì khả năng bảo vệ dữ liệu của hệ thống không còn.
Không thể phục vụ nhiều yêu cầu truy xuất dữ liệu đồng thời.
Xét ví dụ sau,so sánh hoạt động giữa RAID3 và RAID 4:
Hình 4 :Khuyết điểm của RAID3
Thiết kế của bộ điều khiển (RAID controller) khá phức tạp ,chi phí cao,đây cũng là khuyết điểm của tất cả các loại RAID.
Rất khó sử dụng công nghệ RAID 3 này hoàn toàn bằng phần mềm (Software RAID). Khả năng sử dụng được (nếu có) sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu năng hoạt động chung của hệ thống do tài nguyên của hệ thống được dùng để hỗ trợ RAID 3 sẽ rất lớn(Tiêu tốn CPU và làm chậm hệ thống).Trên thực tế chưa thấy hệ điều hành nào hỗ trợ RAID3!
V. Các khả năng ứng dụng của RAID3
Do ưu điểm nổi bật của RAID3 là tốc độ truy xuất dữ liệu cho một IO request khá cao nên có thể áp dụng trong các lĩnh vực sau:
Sử dụng trong các hệ thống multimedia file server.
Sản xuất và truyền video trực tiếp.
Biên tập hình ảnh.
Biên tập video.
Các ứng dụng về Báo chí và xuất bản hoặc các ứng dụng đòi hỏi mức độ & hiệu suất hoạt động cao của đĩa cứng.
VI. Ví dụ về hệ thống triển khai trên thực tế
Một hãng sản xuất phim VN X cần xây dựng một trung tâm xử lí đồ họa với nhiệm vụ chính là tạo các hiệu ứng khác nhau cho các cảnh quay của họ.Đồng thời nó cũng có nhiệm vụ cắt và ghép nối các cảnh quay lại với nhau,xây dựng phim hoạt hình 3D…Họ đã đầu tư các máy tính cấu hình mạnh và sử dụng loại đĩa cứng mới nhất hiện có trên thị trường,sử dụng những phần mềm chuyên dụng chuyên nghiệp nhất .
Nhưng khi bắt đầu đưa trung tâm vào sử dụng thì họ gặp phải một vấn đề là thời gian xử lí của các chương trình làm phim là tạm chấp nhận được nhưng quá trình đọc dữ liệu và ghi dữ liệu sau khi xử lí là quá lâu đôi khi làm treo cả máy tính.Có những bộ phim lưu trữ đã lâu,bỗng nhiên không thể mở lại được
Họ phải tìm đến một công ty tư vấn và cung cấp các giải pháp CNTT Y để yêu cầu giúp đỡ.
Sau khi tiến hành khảo sát ,công ty Y nhận thấy:
Quá trình xử lí phim thường truy xuất trên các file rất lớn,đặc biệt là các file Video chưa nén dung lượng có thể lên đến vài GB,quá trình này làm chậm máy tính rất nhiều và thời gian truy xuất rất lâu.
Họ sử dụng các ổ cứng đơn để lưu trữ các file Video.
Sau khi load dữ liệu xong thì các chương trình xử lí Video chạy bình thường.
Giải pháp: Rõ ràng vấn đề không nằm ở tốc độ CPU và RAM hay card đồ họa mà nằm ở tốc độ đọc ghi ổ đĩa quá thấp.Vậy cần tăng tốc độ truy xuất ổ cứng =>Sử dụng RAID
Vì nhu cầu của họ cần truy xuất các file Video lớn nên sử dụng RAID 3 là hợp lí nhất.Có hai hướng áp dụng RAID là:
Sử dụng RAID trên từng máy xử lý kĩ thuật (client).
Xây dựng hệ thống lưu trữ tập trung.
Triển khai:
Máy server:Sử dụng RAID5 để phục vụ các yêu cầu upload và download các đoạn phim từ các máy Client,số ổ đĩa tùy vào nhu cầu của hãng phim và kinh phí đầu tư.
Các máy client sử dụng RAID 3,3 ổ đĩa.
Cả hai hệ thống đều có card RAID,hỗ trợ các loại RAID 3,5.
Mô hình cho hãng phim X được mô tả như sau:
Hình 5:mô hình RAID của hãng X
VII. RAID3 vs RAID5
Một số so sánh giữa RAID3 so với RAID5 :
.png)
.png)
Trên thực tế,RAID5 được hỗ trợ bởi phần cứng cũng như các hệ điều hành do khả năng bảo vệ dữ liệu tốt hơn,cũng như hỗ trợ đa thao tác truy xuất dữ liệu.