Cấu trúc RAIDCấu trúc RAID 0: Stripping
Hai hay nhiều ổ cứng được ghép nối song song. Thông tin được ghi/ đọc song song vào hệ thống lưu trữ. Cấu trúc này cho phép tăng gần gấp đôi tốc độ ghi/ đọc của hệ thống, nó được sử dụng cho các ứng dụng yêu cầu tốc độ trao đổi cao với ổ đĩa cứng (ví dụ Avid MC 8000)
Cấu trúc ghép nhóm này có sác xuất lỗi của cả hệ thống cao
Cấu trúc RAID 1: Mirroing (phản chiếu)
Từng cặp hai ổ cứng được ghép thành một nhóm, thông tin cần lưu trữ vào hệ thống sẽ được đồng thời ghi lên hai ổ đĩa trong nhóm (hay một ổ ẽ là bản sao của ổ kia). Hệ thống này được sử dụng cho các ứng dụng đòi hỏi độ an toàn dữ liệu cao. Khi một ổ có sự cố, thông tin sẽ được đọc ra từ ổ đĩa còn lại. Cấu trúc mirroring không làm tăng tốc độ trao đổi thông tin giữa hệ lưu trữ và hệ xử lý video, RAID 1 chỉ phục vụ cho các an toàn dữ liệu.
Cấu trúc RAID 1có một nhược điểm quan trọng là hệ số hữu ích không gian đĩa thấp, giá thành cho hệ thống cao.
AID + 1 (RAID 10) :Một vài các mức RAID cơ bản có thể tổ vhợp với nhau, một tổ hợp thường gặp là tổ hợp hai mức 0,1. Hệ lưu trữ khi đó sẽ vừa mirroring vùa stripping. H6ẹ này đạt được cả hai yêu cầu: tốc độ trao đổi nhanh, độ an toàn cao. Tuy nhiên giá thành sẽ rất cao.
Cấu trúc RAID 3: Parity error checking
Trong cấu trúc này các ổ cũng được ghép nhóm song song như RAID 1, tuy nhiên ngoài các ổ lưub trữ thông tin dữ liệu, còn có một ổ dùng dđể lưu thông tin chẵn lẻ.
Khi một đĩa cứng trong ổ bị lỗi, thông tin sẽ được khôi phục dựa vào đĩa chứa bit chẵn lẻ. Trong các hệ thống đĩa cứng, có khả năng �thay nóng� (hotswapable), ổ đĩa lỗi có thể rút ra khỏi hệ thống trong khi hệ thống vẫn hoạt động, lúc này ổ cứng lưu bit chẵn lẻ đóng vai trò thay thế cho ổ đĩa lỗi. Sau khi sửu chữa song, ổ cứng đó lại được đưa vào hệ thống, hệ thống trở lại chế độ hoạt động có bảo vệ trữ liệu.
Một điểm cần lưu ý là:RAID 1 có thể coi một cách hình thức như một cấu trúc RAID 3, với tỷ lệ (đĩa lưu trữ thông tin) / đĩa lưu trữ thông tin sửa lỗi là 1 :1. Tỷ số này càng cao, độ an toàn dữ liệu càng giảm, nhưng giá thành / 1MB dữ liệu càng thấp. Việc lựa chọn tỷ số này phụ thuộc vào nhu cầu của từng loại ứng dụng khác nhau. Các tỷ số thông dụng cho RAID 3 có thể là: 4 :1, 8 :1, 16 :1, 20 :1.
Trong cấu trúc chuẩn của RAID 3, dữ liệu được truyền song song đồng thời trên tất cả các ổ trong hệ thống, do vậy, trong một thời điểm, chỉ một thao tác vào / ra được thực hiện. Một số cải tiến trong cấu trúc RAld 3 được mở rộng (Enhanced RAID 3), cho phép hệ thống có thể đáp ứng yêu cầu đọc / ghi tại một thời điểm. Hệ thống này dùng cho các ứng dụng đòi hỏi dung lượng lớn, tốc độ trao đổi cao, mức độ an toàn dữ liệu cao.
Cấu trúc của RAID 3 tối ưu cho việc trao đổi các file dữ liệu lớn, như việc đọc / ghi file A/V trong các hệ dựng số. Trong khi đó, E-RAID 3 được sử dụng trong các hệ thống dữ liệu video trung tâm.
Cấu trúc RAID 5
Là cấu trúc ghép nhóm cho phép hệ thống đáp ứng được nhiều giao tác vào / ra nhất trong các hệ thống RAID hiện đại. Khác với RAID 3, RAID 5 không ghi thông tin chẵn lẻ lên một ổ đĩa riêng, mà tuần tự ghi lên tất cả các đĩa hệ thống, thông tin chẵn lẻ không bị tách riêng mà được coi như càc thông tin dữ liệu khác. RAID 5 là cấu trúc tối ưu cho các ứng dụngđói hỏi số thao tác vào / ra hệ thống lưu trữ lớn, trong khi dung lượng thông tin của từng thao tác là không lớn, ví dụ như các file server cho hệ thống ngân hàng ...
Trên quan điểm hệ thống, việc lưu chọn các giải pháp lưu trữ cho các hệ thống dụng video số là rất quan trọng.
Nếu sử dụng các ổ đĩa cứng đơn lẻ cho từng hệ thống dựng thì sẽ có những hạn chế sau:
Dung lượng lưu trữ hạn chế, cấu hình chuẩn của các hệ dựng số hiện đại từ 1-2 tiếng video.Tốc độ truy cập hạn chế, làm giảm tính năng chung của hệ thống.Việc sử dụng các hệ thống ổ cứng thích hợp sẽ tăng cao năng lực của các hệ thống dựng